Hiển thị các bài đăng có nhãn Innova. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Innova. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Toyota Fortuner 2012: Vẫn là 'xe sang cho xứ nghèo'



Toyota Fortuner là mẫu xe đa dụng bảy chỗ của hãng Toyota và có ký hiệu riêng là SW4. Mẫu xe này được trình làng đầu tiên tại Thái Lan vào năm 2005 và Indonesia là đích đến tiếp theo của mẫu xe này trước khi được ra mắt tại Việt Nam vào tháng 2/2009. Toyota Fortuner là một trong ba mẫu xe nằm trong dự án chế tạo xe toàn cầu bao gồm Toyota Innova, Toyota Hilux và Toyota Fortuner. Kể từ khi ra mắt, mẫu xe này nhanh chóng giành danh hiệu mẫu SUV đa dụng bán chạy nhất tại Việt Nam và Thái Lan đi kèm với doanh số khoảng 20.000 xe bán ra, chiếm 475 thị phần của hãng. Hiện tại Toyota Fortuner chỉ được bán tại một số nước như Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Ác-hen-ti-na, Columbia, Ecuador, Venezuela, Nam Phi, Nam Phi, Ấn Độ, Singapore và Trung Đông.


 Mẫu xe này có chiều dài tổng thể 4.705mm, chiều rộng 1.840mm và chiều cao 1.850mm. Được thiết kế tại Trung tâm kỹ thuật Toyota Australia, Fortuner sở hữu những đường nét đơn giản nhất trên hình dáng của một mẫu xe SUV đồ sộ và cục mịch. Ở phiên bản nâng cấp 2012 mà Toyota Việt Nam vừa ra mắt thì sản phẩm này được nâng cấp một số chi tiết ngoại hình giúp chiếc xe thân thiện và phù hợp, gần gũi hơn với những khách hàng hay dùng xe di chuyển trong phố. Phần đầu xe là nơi có nhiều điểm thay đổi nhất với cản trước sở hữu nhiều đường nét góc cạnh, gồ ghề. Dải lưới tản nhiệt nằm dưới kết hợp với đèn gầm dạng tròn có tông màu đen là chi tiết làm nổi bật cho mẫu xe này.


 Cụm đèn pha sở hữu bóng dạng HID “mắt lồi” được đặt cân xứng hai bên cụm lưới tản nhiệt ba nan được mạ chrome kết hợp với hai đường gân dập nổi trên nắp ca-pô. Ngoài ra mẫu xe này còn được trang bị hệ thổng rửa đèn rất tiện ích cho mỗi chuyến đi xa hoặc đi đêm, chỉ được tran bị cho phiên bản cao cấp nhất, các phiên bản còn lại sử dụng hệ thống đèn chiếu sáng Halogen. Vành xe có kích thước 17 inches với hoa văn 6 chấu kép cũng là điểm mới trên mẫu xe Fortuner. Tấm nhựa nổi trên các hốc lốp giúp mẫu xe này trở nên khỏe khoắn và mang nhiều vẻ cơ bắp hơn. Ngoài ra phần thân xe không có nhiều thay đổi cũng phần đuôi xe với cụm đèn hậu nâng cấp.


 Xét về nội thất, Toyota Fortuner có nhiều nét tương đồng với mẫu xe Innova nhưng được cho là bắt mắt hơn trong khi tông màu chủ đạo vẫn là hai màu kem, ghi xám. Toàn bộ ghế hành khách đều được bọc da và hàng ghế người lái được điều chỉnh điện. Vô-lăng bốn chấu được tích hợp các phím điều khiển đa chức năng. Bảng đồng hồ hiển thị 3D bắt mắt với tông màu xanh làm chủ đạo. Xét về hệ thống giải trí, Toyota Fortuner V được trang bị đầu đọc DVD, màn hình cảm ứng hỗ trợ thêm chức năng AM/FM/MP3/WMA, cổng USB. Trong khi đó phiên bản V 4x2 chỉ được trang bị đầu đọc CD cùng các chức năng hỗ trợ y hệt. Ngoài ra hệ thống điều hòa với hai dàn lạnh độc lập cùng cửa gió dành riêng cho hàng ghế thứ ba giúp tiếp cận gió tốt hơn tới từng vị trí. Và nếu để ý kỹ thì Fortuner là mẫu xe SUV duy nhất của Toyota được trang bị gương chiếu hậu gập điện. Điều này còn là hiếm hoi ở cả mẫu xe đàn anh Toyota Prado. Hàng ghế thứ hai có thể tăng diện tích bằng cách gập theo tỉ lệ 60/40 và hàng ghế thứ ba có tỉ lệ gập 50/50.


 Tại phiên bản 2012, Toyota đã đa dạng hóa sản phẩm bằng phiên bản máy xăng sử dụng hệ dẫn động một cầu. Như vậy chỉ có phiên bản máy dầu duy nhất sử dụng động cơ 2.5L Common Rail thế hệ mới có công suất cực đại 100,5 mã lực ở vòng tua 3.600 vòng/phút và Momen xoắn cực đại từ dải vòng tua 1.600-2.400 vòng/phút. Phiên bản này sử dụng hê dẫn động cầu sau cùng hộp số tay 5 cấp.


 Toyota Fortuner sử dụng hệ thống treo trước dạng độc lập, tay đòn kép, lò xo cuộn với thanh cân bằng trong khi đó hệ thống treo sau liên kết 4 điểm, tay đòn bên và lò xo cuộn. Về trang thiết bị an toàn ở phiên bản cao cấp nhất Fortuner được trang bị hệ thống túi khí cho hành khách hàng ghế trước và hệ thống chống bó cứng phanh ABS.


 Chiếc xe trong bài test thuộc phiên bản cao cấp nhất sử dụng động cơ xăng 2.7L cùng hệ thống dẫn động bốn bánh chủ động toàn thơi gian kết hợp với hộp số tự động 5 cấp. Khởi động chiếc xe cho thấy sự yên tĩnh nhưng cảm nhận được phần nào độ rung của động cơ khi ngồi trong cabin. Ngay khi tăng tốc người lái thấy rõ độ ì của chiếc xe nặng 2,3 tấn này cho đến khi thoát khỏi cấp số 1 tiếng ồn vọng từ khoang động cơ vào trong cabon mới giảm hẳn, dường như đây là một “nhược điểm truyền thống” của Fortuner. Bán kính quay tối thiểu 5,9m và tầm bao quát tốt là điều lý tưởng để đưa Fortuner di chuyển vào những con phố đông đúc nhưng bạn vẫn cảm thấy không bị tâm lý nặng nề mỗi khi quay đầu xe.


 Động cơ sang số khá sớm có ích trong việc tiết kiệm năng lượng nhưng lại làm cho bạn cảm thấy “hơi yếu” mỗi khi cần đạt tốc độ cao. Chạy trên một đoạn đường dài với vận tốc 70 km/h có lẽ là vận tốc lý tưởng của chiếc xe khi động cơ hoạt động ở vòng tua khoảng 1.500 vòng/phút, chiếc ồn của dộng cơ giảm và chiếc xe thể hiện sự linh hoạt đáng kế. Ngay khi chạm mốc 80 km/h, bạn sẽ cảm nhận rõ được tiếng lốp xe và khoang động cơ vọng vào cabin rất nhiều gây cảm giác khó chịu cho người lái xe. Là một mẫu xe bảy chỗ, hàng ghế thứ hai hoàn toàn đáp ứng được không gian để chân cho người ngồi sau nhưng hàng ghế thứ ba có lẽ chỉ dành cho trẻ nhỏ, thậm chí không gian để chân gò bó và không rộng bằng Toyota Innova.


 Là mẫu xe bảy chỗ dựa trên nền tảng của chiếc xe bán tải Toyota Hilux nên Fortuner sử dụng cấu trúc sắt-xi rời cùng với trọng tâm cao 220mm là điều kiện tốt để di chuyển ở những chỗ gồ ghề nhưng khi đi trên đường bằng ở tốc độ cao lại tạo cảm giác chòng chành và không an toàn. Hơn nữa khi di chuyển ở tốc độ 90 km/h vô lăng của Fortuner tạo cảm giác nhẹ và nhạy chứ không đầm, chắc tay không tạo được sự tin cậy cho người điều khiển.


 Trong bãi test,  khi di chuyển ở tốc độ 50 km/h mẫu xe này vẫn hoàn thành bài cua rất tốt nhưng nếu thực hiện lại ở vận tốc trên 60 km/h và đánh lái gấp chiếc xe có hiện tượng bị vặn mình và bai ra ngoài cua. Khi giữ nguyên tốc độ này là chạy zíc-zắc, chỉ cần qua hai cột mốc là chiếc xe của chúng ta cần như không còn đi theo hướng vô-lăng điều khiển và do một phần trọng lương toàn tải lớn hơn 2 tấn nên chiếc xe ít khi có hiện tương bị văng đuôi. Hệ thống phanh ABS trên phiên bản V  là hệ thống an toàn rất xứng đáng trong việc bạn muốn tránh chướng ngại vật ở tốc độ cao. Tuy nhiên Toyota Fortuner sử dụng hệ thống dẫn động bốn bánh toàn thời gian dành cho phiên bản 4x4 với hệ thống cầu mềm đặt phía trước và cầu cứng đặt ở phía sau lại tỏ ra lợi thế hơn khi chạy trên những cung đường gồ ghề.


Phần đuôi với cụm đèn hậu cải tiến


Phần đầu nổi bật và bắt mắt hơn


Phần đầu nổi bật và bắt mắt hơn



Hệ thống rửa đèn pha chỉ có trên phiên bản V


Hệ thống rửa đèn pha chỉ có trên phiên bản V




Hệ thống điều hòa 2 dàn lạnh dành cho cả ba hàng ghế


Hệ thống điều hòa 2 dàn lạnh dành cho cả ba hàng ghế




Xem bài viết đầy đủ

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Toyota Innova phiên bản 2012 có gì mới?


Innova 2012 có thiết kế lưới tản nhiệt và hốc hút gió mới


Xe Innova 2012 có kích thước 4.585 x 1.760 x 1.750mm (dài rộng, cao), trọng lượng không tải 1.545 - 1.610kg, dung tích bình xăng 55 lít, bộ mâm bánh kích thước 205/65-15, gầm xe cao 176mmỞ các phiên bản V và G, đèn báo rẽ được tích hợp ngay trên gương chiếu hậu chỉnh điệnThiết kế mới cho đèn pha halogen


Ở các phiên bản V và G, đèn báo rẽ được tích hợp ngay trên gương chiếu hậu chỉnh điệnThiết kế mới cho đèn pha halogen


Thiết kế mới cho đèn pha halogen


Đèn hậu không hấp dẫn hơn với các thế hệ trướcInnova 2012 vẫn giữ được ưu thế về khả năng "mang vác", với các kiểu sắp xếp hàng ghế thứ ba linh hoạtĐộng cơ 1TR-FE I4 dung tích 2.0 cho công suất tối đa 136 mã lực tại 5.600 vòng/phút, momen xoắn cực đại 182 Nm tại 4.000 vòng/phút. Xe đạt tốc độ tối đa 170km/hBố trí các khe gió trên xe Innova 2012Hàng ghế trước vẫn chỉnh cơ hoàn toàn. Nội thất da chỉ có trên bản Innova V


Innova 2012 vẫn giữ được ưu thế về khả năng "mang vác", với các kiểu sắp xếp hàng ghế thứ ba linh hoạtĐộng cơ 1TR-FE I4 dung tích 2.0 cho công suất tối đa 136 mã lực tại 5.600 vòng/phút, momen xoắn cực đại 182 Nm tại 4.000 vòng/phút. Xe đạt tốc độ tối đa 170km/hBố trí các khe gió trên xe Innova 2012Hàng ghế trước vẫn chỉnh cơ hoàn toàn. Nội thất da chỉ có trên bản Innova V


Động cơ 1TR-FE I4 dung tích 2.0 cho công suất tối đa 136 mã lực tại 5.600 vòng/phút, momen xoắn cực đại 182 Nm tại 4.000 vòng/phút. Xe đạt tốc độ tối đa 170km/hBố trí các khe gió trên xe Innova 2012Hàng ghế trước vẫn chỉnh cơ hoàn toàn. Nội thất da chỉ có trên bản Innova V


Bố trí các khe gió trên xe Innova 2012Hàng ghế trước vẫn chỉnh cơ hoàn toàn. Nội thất da chỉ có trên bản Innova V


Hàng ghế trước vẫn chỉnh cơ hoàn toàn. Nội thất da chỉ có trên bản Innova V


Hộp số tự động 4 cấp giờ đây được trang bị trên cả bản Innova G


Thiết kế hàng ghế thứ hai độc lậpXe Innova V được ốp gỗ ở cửa, tay lái, bảng điều khiển...


Xe Innova V được ốp gỗ ở cửa, tay lái, bảng điều khiển...


Thiết kế hàng ghế thứ hai độc lậpXe Innova V được ốp gỗ ở cửa, tay lái, bảng điều khiển...


Innova 2012 có độ cách âm khá tốt; ở chế độ không tải, với tốc độ động cơ 800 vòng/phút, tiếng ồn đo được trong khoang máy là 73,4dB, phía trên nắp khoang máy là 57,5dB và trong khoang lái là 46,2dB


Innova có khá nhiều hốc để đồ được giấu kín trên xe: bên cạnh cần số, tựa tay hàng ghế lái, bên dưới bảng đồng hồ, hốc để nước ở giữa cho hàng ghế hai cũng như trên các cánh cửa.Bố trí bảng đồng hồ chính của xe Innova 2012Phiên bản cao cấp nhất Innova V 2012 có giá bán 794 triệu đồng (đã bao gồm thuế GTGT).


Phiên bản cao cấp nhất Innova V 2012 có giá bán 794 triệu đồng (đã bao gồm thuế GTGT).

Xem bài viết đầy đủ

Toyota Innova 2012: Không có nhiều điểm mới



Toyota Innova 2012 sở hữu chiều dài tổng thể 4.585 mm, chiều rộng 1.760 mm và chiều cao là 1.750 mm. Ở phiên bản 2012, Toyota Innova đã có nhiều cải tiến hơn về cả ngoại hình lẫn nội thất. Bạn có thể dễ dàng nhận thấy phần đầu xe cải tiến với cụm đèn pha mới, vuông vắn và cứng cáp hơn kết hợp với lưới tản nhiệt mạ chrome làm cho mẫu xe này có nhiều nét tương đồng với những sản phẩm cùng hãng, đơn cử như Toyota Fortuner và Hilux. Nắp ca-pô xe khỏe hơn nhờ hai đường gân dập nổi kéo dài và nối với hai đường gân trên lưới tản nhiệt. Đuôi xe vẫn thiết kế giống những phiên bản trước nhưng được thay thế bằng cụm đèn hậu có thiết kế mới hơn. Tổng thể chiếc xe mang lại một cảm giác thân thiện và gần gũi hơn. Vành la-zăng hợp kim đúc mới 10 chấu có kích thước 15 inch cùng cỡ lốp 205/65R15.


Trong dòng sản phẩm Innova mới này, Toyota đã lựa chọn tung ra ba phiên bản V, G, E tương ứng với ba mức giá khác nhau lần lượt 794 triệu, 727 triệu và 686 triệu. Xét về nội thất, cả phiên bản G và E đều chỉ được trang bị nội thất nỉ, duy nhất phiên bản V được trang bị ghế da. Toàn bộ phần bảng điều khiển đều có sự thay đổi nhưng hầu như không đáng kể so với phiên bản G, E. Vẫn sử dụng núm xoay tròn cho hệ thống điều hòa nhưng có kiểu dáng khác. Tuy nhiên, điểm cộng cho Innova đó là cả ba phiên bản đều được sử dụng hệ thống điều hòa hai dàn độc lập và có cửa gió cho hàng ghế thứ ba. Riêng phiên bản V được trang bị thêm hệ thống điều hòa tự động. Điều này đi kèm với việc thiết kế cụm điều khiển trung tâm cũng khác biệt đáng kể so với hai phiên bản thấp cấp hơn.


Chiếc xe chúng tôi sử dụng trong bài viết thuộc phiên bản V còn có sự góp mặt của hàng ghế sau với hai ghế độc lập. Ta cũng có thể tự hiểu rằng, đây vốn là sự thay tên của mẫu xe Innova GSR mà trước kia Toyota đã giới thiệu vào năm 2011. Không còn sự góp mặt của màn hình DVD dành cho hàng ghế sau, Toyota đã tích hợp vào màn hình DVD trung tâm có chức năng hỗ trợ đọc CD/MP3/AUX/iPod hay radio FM/AM kết hợp với 6 loa. Hai phiên bản còn lại sử dụng đầu đọc đĩa CD thông thường. Cụm đồng hồ trung tâm ở phiên bản V bắt mắt và hiện đại hơn với tông màu xanh làm chủ đạo. Ngoài ra, cả phiên bản V và G đều được trang bị thêm tổ hợp phím đa chức năng tích hợp trên vô-lăng.


Ngoại hình và nội thất đều có sự cải tiến, tuy nhiên, Toyota vẫn quyết định trang bị động cơ cũ cho cả ba phiên bản. Động cơ xăng VVT-I, 4 xylanh thẳng hàng, 16 van, DOHC có dung tích 1.998 cc, có tỉ số nén 9,8:1, cho công suất cực đại 136 mã lực tại 5.600 vòng/phút và mô men xoắn cực đại 182 Nm tại 4.000 vòng/phút, đạt tiêu chuẩn khí thải Euro II. Phiên bản V, G được lắp đặt hộp số tự động 4 cấp còn phiên bản E sẽ vẫn sử dụng hộp số tay 5 cấp. Xe sử dụng hệ thống treo trước dạng tay đòn kép lò xo cuộn và thanh cân bằng trong khi hệ thống treo sau liên kết 4 điểm, lò xo cuộn, tay đòn bên.


Về mặt an toàn, xe được trang bị túi khí cho hành khách ngồi trước và chỉ có hệ thống chống bó cứng phanh ABS trên phiên bản V.


Là một chiếc xe nhằm phục vụ nhu cầu di chuyển cho nhiều người nên Toyota Innova khá chú trọng vào không gian bên trong. Cách bố trí hợp lý không gian để chân cho cả ba hàng ghế phù hợp với vóc dáng người Châu Á là điểm mạnh của mẫu xe này. Tuy nhiên, hàng ghế thứ ba có lớp đệm mỏng vẫn gây ra cảm giác mệt và gò bó đối với người cao khoảng 170 cm trở lên. Đây là vị trí thích hợp hơn với trẻ nhỏ trong những chuyến đi có nhiều hành khách. Nếu không sử dụng đến hàng ghế thứ ba, bạn hoàn toàn có thể gập lại và treo sang hai bên thành xe giúp tạo nên một không gian thoáng cho việc đựng 5 vali cỡ trung.


Ở phiên bản V dành cho 7 hành khách, bạn sẽ còn tìm thấy cảm giác thoải mái hơn nhờ hàng ghế thứ hai độc lập tạo ra không gian ngồi riêng biệt. Điểm tiện lợi còn nằm ở chỗ, xe tạo ra không gian để chân đáng kể hơn cho hàng ghế thứ ba và bạn sẽ không phải gập lại nếu muốn xuống hàng ghế cuối cùng như những phiên bản khác.


Tại ví trí lái, người điều khiển có thể dễ dàng tìm được tư thế ngồi ưng ý. Động cơ khởi động một cách lặng lẽ, êm ái vốn là ưu điểm của Toyota. Gầm xe có khoảng sáng 191 mm là điều thuận lợi cho việc di chuyển ở Việt Nam. Bán kính xe tối thiểu 5,4 m cũng giúp bạn dễ dàng quay đầu hay “luồn lách” trong nội thành. Với trọng lượng không tải ở mức 1.545 kg nhưng ở những bước ga đầu Toyota Innova thể hiện sự ì rõ ràng. Chỉ khi vượt qua khỏi cấp số 1, bạn mới cảm thấy được sự “bí bách” của động cơ và cảm giác bon hơn rất nhiều.


Điểm cộng của mẫu xe Toyota Innova chính là dù bạn đi ở cấp số nào đi nữa, vòng tua máy cũng chỉ luôn dao động ở dải vòng tua từ 1.000-1800 vòng/phút. Điều này quyết định khá nhiều trong việc đánh giá lượng nhiên liệu tiêu thụ. Di chuyển ở tốc độ 60 km/h, Toyota Innova tỏ khá linh hoạt không tạo ra cảm giác xóc cho hành khách ngồi trên xe. Tuy nhiên, một số nhược điểm cũ ở mẫu xe này vẫn chưa được Toyota khắc phục như trọng tâm xe cao nên khi thực hiện những khúc cua gấp thân xe thường hay bị vặn và bai ra ngoài cua. Điều này một phần còn do Innova có cấu trúc sát-xi rời.


Khi xe chạy ở tốc độ cao, người lái sẽ có cảm giác bồng bềnh, không chắc chắn. Hiện tượng này xuất hiện bắt đầu từ vận tốc 70 km/h. Ngoài ra, phản hồi tay lái bị chậm khiến người lái thường phải tự sửa lái liên tục. Khi chạy hình zíc-zắc ở vận tốc 50 km/h, xe thường xuyên bị vặn và văng đuôi. Riêng phiên bản V được trang bị phanh ABS nên khả năng phanh và kiểm soát khi phanh tốt hơn.


Ở mức giá 686 triệu cho phiên bản E, Innova có lẽ vẫn thích hợp là một chiếc xe dùng vào mục đích thương mại nhờ khả năng tiêu thụ nhiên liệu, không gian hợp lý cùng khả năng giữ giá sau khi bán lại. Tuy nhiên, nếu sử dụng vào mục đích và giá trị sử dụng cho gia đình thì trong khoảng giá từ 727 triệu cho đến 794 triệu cho phiên bản G và V, Innova có lẽ sẽ phải đối đầu với một số đối thủ như Kia Carens hay Nissan Livina.


Một số hình ảnh chi tiết của Toyota Innova 2012:


Nội thất của phiên bản V.Đầu xe cá tính hơn. 


Nội thất của phiên bản V.


Đầu xe cá tính hơn. 


Nội thất của phiên bản V.Đầu xe cá tính hơn.


Cụm màn hình hiện đại.Nội thất của phiên bản G, trang bị hộp số tự động 4 cấp.Nội thất của phiên bản E, trang bị hộp số tay 5 cấp.


Nội thất của phiên bản G, trang bị hộp số tự động 4 cấp.Nội thất của phiên bản E, trang bị hộp số tay 5 cấp.


Nội thất của phiên bản E, trang bị hộp số tay 5 cấp.

Xem bài viết đầy đủ

Bài đăng phổ biến